Thực trạng này xuất hành từ một số vụ việc nổi lên gần đây khi một số người đứng đầu doanh nghiệp bị cơ quan điều tra khởi tố, bắt tạm giam về các hành vi như lạm dụng, lường đảo tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, dùng trái phép tài sản… mà duyên do ban đầu lại nảy sinh từ tranh chấp dân sự hoặc kinh dinh thương nghiệp.
Theo nghĩ suy của tôi, cách hiểu về “hình sự hóa” như dư luận bấy lâu đề cập có lẽ là chưa chuẩn xác, bởi về mặt học lý, hình sự hóa là một quá trình trong đó các nhà lập pháp lượng định chính sách về hình phạt hay xác định loại hình phạt, khung hình phạt, điều kiện quyết định hình phạt đối với loại tù hãm này hay tù nhân khác nhằm biểu đạt thái độ, sự phản ứng của nhà nước đối với những hành vi xâm phạm các quan hệ tầng lớp được luật pháp hình sự bảo vệ, cũng như đường lối đánh giá, xử lý. Nó là một bộ phận của quá trình phi hình sự hóa, phạm nhân hóa và phi phạm nhân hóa diễn ra đồng thời, tùy thuộc vào bối cảnh, sự phát triển của các quan hệ xã hội, phản ánh chính sách hình sự của quốc gia ta. Nên chi, thực trạng bị coi là “hình sự hóa” thời kì qua thật ra cốt chỉ là tình trạng nhận thức không đúng và sự lạm dụng quyền lực của các cơ quan chức năng bằng biện pháp tố tụng hình sự nhằmhttp://www.Idee.Vngiải quyết các tranh chấp dân sự-thương mại, thay vì các tranh chấp này phải được giải quyết duyệt cơ chế tài phán Trọng tài hoặc Tòa án.
Tuy nhiên, trong số các ý kiến phát biểu tại buổi tọa đàm, tôi để ý đến TS Phạm Duy Nghĩa ở Khoa Luật Trường Đại học Kinh tế TPHCM, có đề cập đến “nguồn cội” của thực trạng này có nhẽ khởi hành từ lịch sử lập pháp nước ta mà thành tựu cốt chính là hình luật, ở đó phản chiếu xu hướng người dân khi tranh chấp không giải quyết được với nhau thì thường phải cậy nhờ ải “cầm trượng” quất vào mông mà phán xử.
Tôi nghĩ cách tiếp cận này có một phần có lý của nó, bởi theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, lịch sử ghi nhận dòng chảy luật pháp thành văn của Việt Nam được đánh dấu kể từ công cuộc điển chế của các vua đời nhà Lý, mà bộc lộ tụ tập nhất là sự ra đời của bộ “Hình thư”: “Trước kia, việc kiện cáo trong nước phiền hà, quan giữ luật pháp câu nệ luật văn, cốt làm cho khắc nghiệt, thậm chí có người bị oan quá quắt. Vua lấy làm yêu, sai trung thưthiết kế dự án quy hoạchsan định luật lệnh, châm chước cho thích dụng với thời thế, chia ra môn loại, biên thành điều khoản, làm thành sách Hình thư của một triều đại, để cho người xem dễ hiểu. Sách làm xong, xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện. Đến đây phép xử án được bằng thẳng rõ ràng, thành ra mới đổi niên hiệu là Minh Đạo và đúc tiền Minh Đạo”.
Đời vua Lý Anh Tông, năm Bính Dần (1147), vua xuống Chiếu cho các Ty xử án xử phạt kẻ tranh chấp trái phép vào tháng 6 nhuận, trong đó quy định “kẻ nào tranh bậy không hợp điều luật pháp chế thì xử 60 trượng”. Lịch sử Việt Nam còn lưu giữ “Bộ luật Hồng Đức” (còn gọi là “Lê triều hình luật”) thời nhà Lê (1428-1788) với một ảnh hưởng sâu sắc trong sự phát triển của xã hội Việt Nam, cùng với nó là bộclick here“Quốc triều khám tụng điều lệ” như một cột mốc trước nhất đánh dấu trong lịch sử lập pháp của Việt Nam có một bộ luật tố tụng biệt lập. Lý giải về vấn đề này, học giả Đào Duy Anh lập luận rằng: “Nhà lập pháp (thời quân chủ) chủ ý làm cho dân bớt kiện tụng, như gia tội những người chống án không căn cứ, cấm nghề thầy kiện, thầy cung. Sở dĩ có điều này là vì dân nhà quê ta rất hiếu tụng, đó cũng là một ảnh hưởng của nông nghiệp” (“Việt Nam văn hóa sử cương” - NXB Bốn Phương- Sài Gòn 1951- tr. 154).
Có nhẽ bản chất ưa “hiếu tụng” của người dân khởi nguồn từ nền văn minh lúa nước đã để lại một di sản tâm lý không dễ ngày càng khắc phục. Ngay cả các chủ doanh nghiệp khi giao thiệp ghi rõ trong hợp đồng, thỏa thuận là nếu nảy tranh chấp mà không hòa giải, thương thuyết được thì sẽ được giải quyết tại Tòa án, thế mà vẫn sẵn sàng làm đơn tố cáo hình sự gửi đến các cơ quan tiến hành tố tụng. Thực trạng này phải chăng còn có một phần nguyên nhân, trong một chừng đỗi nào đó, Tòa án chưa trở nên địa chỉ tin để người dân, doanh nghiệp có khả năng tiếp cận với công lý, bởi hành trình tố tụng quá nhiêu khê không có điểm dừng, buộc lòng họ phải cậy nhờ biện pháp “hình sự hóa” để có thể giải quyết, mưu cầu lợi ích một cách nhanh hơn?
|