Cửu chương luật (Luật 9 chương) do Tiêu Hà triều Hán soạn, trong chương Hộ luật bao gồm nội dung về hôn nhân, quy định nam lấy vợ lẽ là hợp pháp, “7 điều bác bỏ” nói lý do chồng bỏ vợ, còn người vợ tự ý đi bước nữa hoặc chồng chết chưa chôn mà tục hôn đều bị “bỏ chợ” (chém đầu phơi thây giữa chợ). Cũng là hành vi gian dâm, cách xử phạt đối với nam và nữ rất không công bằng. Chồng tà dâm với vợ người khác thì chỉ bị đánh đòn, còn vợ dâm tà với người khác thì bị xử chém. Theo nhà nghiên cứu Đàm Đại Chính (Trung Quốc), thời Tam Quốc, Lưỡng Tấn, Nam Bắc Triều cơ bản thừa kế luật nhà Hán, có tăng giảm tí đỉnh. Vĩnhtu van kien truc quy hoachHuy pháp sơ (Luật Đường) do Đường Cao Tông Vĩnh Huy công bố năm 651 là một bộ luật hoàn chỉnh nhất của thời phong kiến Trung Quốc còn giữ được. Nó bảo vệ toàn diện loại hôn nhân mua bán, biện hộ phong kiến (do ba má làm chủ). Nam nữ hôn phối phải có thủ tục “giấy hôn phối”, và lấy “thất xuất” và “nghĩa tuyệt” làm điều kiện ly hôn. “Thất xuất” là bảy loại lý do nhà chồng thời xưa nêu ra để bỏ vợ, bắt nguồn từ thời Xuân Thu, tầnghttp://www.Idee.Vnlớp phong kiến tiếp kiến ứng dụng. Bảy lý do là: Không con, dâm dật, không thờ bố mẹ chồng, lắm lời, móc túi, ghen tỵ, bệnh hiểm nghèo. “Nghĩa tuyệt” ý nói vợ chồng hai bên đánh lộn nhau, giết chóc nhau, không còn tình nghĩa, nên phải ly hôn. Trong Luật Đường, địa vị vợ chồng không đồng đẳng. “Sống chung tất có tôn trưởng”, gia trưởng trong gia đình có quyền chi phối rất lớn. Chồng lấy vợ lẽ là hợp pháp, nhưng thê thiếp phân biệt nghiêm nhặt. Người lấy thê (vợ) làm thiếp (vợ lẽ), lấy tì (tôi đòi) làm thê (vợ), lấy thiếp (vợ lẽ) làm thê (vợ), lấy tì (tôi tớ) làm thê (vợ lẽ) đều bị đánh đòn. Sau thời Đường, các thời Tống, Nguyên, Minh, Thanh, luật cụ thể tuy có thay đổi, nhưng ý thức nam tôn nữ ty, chế độ gia trưởng trước sau không đổi. Đến bộ luật rốt cuộc của lịch sử cổ đại Trung Quốc – Luật Thanh – trên quan hệ hôn nhân gia đình đều lấy sức cưỡng chế của pháp luật để bảo hộ cương thường truyền thống trung với vua, hiếu với bác mẹ và sự thống trị của chủ nghĩa hụi, nữ không có quyền hôn nhân tự chủ, “cưới gả do ông bà, bố mẹ định đoạt chủ hôn”, nam đã có vợ lấy vợ lẽ hoàn toàn hợp pháp. Ở châu Âu thời Cận đại, các quốc gia phong kiến rất nhiều, luật pháp về chế độ hôn nhân, gia đình rất không hợp nhất, chính yếu theo tập quán, luật giáo hội và luật La Mã… Cũng theo nhà nghiên cứu Đàm Đại Chính, giáo hội cho rằng gia đình với chế độ giathiet ke du an kien truc chung cutrưởng là hình thức gia đình vĩnh viễn không thay đổi, do thượng đế xếp đặt. Giáo hội chủ trương chủ nghĩa cấm dục, cho rằng tình dục tình bản thân vốn không trong sạch và là tội ác, cho phép kết hôn chỉ là một kiểu nhượng bộ để sinh ra đời sau và tránh dâm loạn, nên xem nó là “một loại khuyết điểm phải bổ khuyết”. Quan niệm này đã cai trị châu Âu mấy trăm năm, mãi đến thời văn hóa Phục hưng mới bị đả kích mạnh mẽ. |
